TUỔI THẦN TIÊN MinhTuan Nguyen - Doanh Trí

TUỔI THẦN TIÊN
MinhTuan Nguyen

Tiếng ve thổn thức mùa hè
Phượng hồng đỏ má, lắng nghe tình đầu .
Xin dòng lưu bút đậm sâu
Đừng ghi là bạn, kẻo sầu tiễn đưa.

Ngày mai nỗi nhớ dư thừa
Vòng quay xe đạp, hết mùa lứa đôi
Sân trường hình bóng xa xôi
Thời gian cũng chẳng ngừng trôi lớp người.

Mộng xanh sao bỗng kém tươi
Vần thơ khờ dại, khiến người nổi trôi
Áo dài bối rối đi rồi
Từ nay ánh mắt, làn môi thẫn thờ.

Góc sân, hết đợi hết chờ
Chẳng còn trên lớp, tiếng tơ nói cười
Bầu trời tháng hạ mãi tươi
Đắm mùa day dứt… Lớp người thần tiên .

MINH TUẤN.

 

Duy Tan Tuyen Sinh 2019

Tin liên quan

BÀ U GIÀ TRUNG THÀNH - TS Nguyễn Thị Sơn

BÀ U GIÀ TRUNG THÀNH - TS Nguyễn Thị Sơn

Theo Hiệp định Geneve, Việt Nam chia thành hai vùng tập kết quân sự, quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tập trung tại miền Bắc, còn quân đội khối Liên hiệp Pháp tập trung tại miền Nam. Lấy vĩ tuyến 17, sông Bến Hải làm giới tuyến quân sự tạm thời. Lúc ấy dự định, đây là sự phân chia tạm thời, sẽ có một cuộc Tổng tuyển cử vào năm 1956 nhằm thống nhất hai miền dưới một chính phủ. Tập kết dân sự được diễn ra theo nguyên tắc tự nguyện.

ANH VỀ HỌC LẤY CHỮ NHU <br>Ca dao Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

ANH VỀ HỌC LẤY CHỮ NHU
Ca dao Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ, Đèn Mỹ Tho khi tỏ khi lu. Anh về học lấy chữ nhu, Chín trăng em đợi mười thu em chờ. "Nhu" là thành phần biểu âm của chữ "nho". Nho là "học trò" tức "người cần dùng" (chữ "nho" gồm có chữ "nhân" và chữ "nhu"). Đạo nho là "đạo của người có học" (do thầy Khổng Tử sáng lập) nên người Việt mình quen gọi chữ Hán là chữ nho, thực ra là chữ thánh hiền (Nhất tự vi sư): Vốn là "Nhất tự vi sư", Ai thêm "bán tự vi sư" cho phiền? "Nhẫn" là "đao" khứa lên "tim", Đời ta một chữ thánh hiền chửa xong... Trong quyển "Ca dao - tục ngữ Việt Nam" (một giáo viên dạy văn đã cho chúng tôi mượn xem), tác giả Hoài Quỳnh có giải thích về câu ca dao "Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ..." nguyên văn như sau: "Người con gái mong muốn người con trai mình yêu thương nên cố gắng học hành (tức học chữ nho) để lập nên sự nghiệp sáng sủa giống như đèn Sài Gòn chứ nếu không sẽ bị lu mờ như đèn Mỹ Tho, dù có phải chờ đợi chín hay mười năm cô ấy cũng cam lòng..." Lời giải thích trên theo chúng tôi không chính xác vì vào cái thời "đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ", chữ nho đang bị thất thế làm sao giúp chàng "lập nên sự nghiệp" được? Trái lại, những người muốn đi làm cho Pháp ở Sài Gòn thời Pháp thuộc đều phải thông thạo chữ quốc ngữ. Tác giả câu ca dao này có lẽ là một nhà nho yêu nước đã mượn lời người con gái khuyên chàng trai nên từ bỏ "sự nghiệp" giúp việc cho Tây, thà trở về quê sống tuy nghèo khó mà giữ được đạo nhà (đạo nho, đạo trung quân ái quốc). Câu ca dao "Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ... " được sáng tác theo cả ba thể: Phú (Nói thẳng), Tỉ (So sánh) và Hứng (Nổi cảm xúc lên)...

BÀ TRIỆU (225 - 248) <br>Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

BÀ TRIỆU (225 - 248)
Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

Nhà Hán sau khi chiếm được Nam Việt của Triệu Ai Vương liền đổi nước ta thành Giao Chỉ bộ gồm 9 quận trong đó có quận Giao Chỉ chiếm cả vùng Bắc bộ ngày nay (Cửu Chân và Nhật Nam thuộc bắc Trung bộ). Các quận còn lại thuộc Quảng Đông, Quảng Tây và đảo Hải Nam. Đứng đầu "bộ" là Thứ sử, đứng đầu "quận" là Thái thú. Đến năm 202 theo đề nghị của Sĩ Nhiếp, nhà Đông Ngô mới đổi tên Giao Chỉ bộ thành Giao Châu để khỏi lẫn với Giao Chỉ quận. Để có đủ lực đánh nhau với Tào Tháo (nước Ngụy) và Lưu Bị (nước Thục), Đông Ngô của Tôn Quyền bóc lột dân ta tàn ác nhất trong số các triều đại Trung Quốc thời Bắc thuộc đến nỗi sau này dân ta luôn lấy tên Ngô đặt cho mọi loại giặc dữ ở phương Bắc ("Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng" hay "Cáo Bình Ngô" v. v...). Chúng hung dữ lắm thay! Vậy mà: “Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, Đạp làn sóng dữ, Chém cá kình ở biển Đông, Giải phóng non sông khỏi bọn giặc nước, Chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho ai cả!” Người nói câu này là một cô gái rất đẹp ở tuổi đôi mươi tên là Triệu Thị Trinh (225 - 248) được cả quân ta và quân địch tặng danh hiệu là “Nhụy Kiều Tướng Quân” tức vị tướng yêu kiều. Thơ ca dân gian có câu: “Ru con, con ngủ cho lành, Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi. Muốn coi lên núi mà coi, Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.” Lũ trẻ cũng có bài đồng dao: “Có bà Triệu tướng, Vâng lệnh Trời ra. Trị voi một ngà, Dựng cờ mở nước. Lệnh truyền sau trước, Theo bước bà vương.” Trai tráng cả nước nô nức tham gia hàng ngũ nghĩa quân. Năm 245, Triệu Thị Trinh khởi nghĩa tại huyện Cửu Chân. Quân ta ồ ạt tấn công khắp các huyện thành khiến quân Ngô vỡ chạy hoặc bị tiêu diệt. Bình định xong Cửu Chân, bà Triệu tiến đánh Giao Chỉ quận. Cả một vùng Giao Châu được giải phóng. Thứ sử Giao Châu bị bắt và bị xử tử. Giang Đông bị rúng động. Vua Ngô là Tôn Quyền phải sai cháu của Lục Tốn (danh tướng thời Tam Quốc) là Lục Dận sang đánh bà Triệu và làm thứ sử Giao Châu. Lục Dận đã gây ô nhiễm tất cả các sông, suối ở nước ta bằng chất ô uế và xác động vật ("chiêu" này ngày nay còn có kẻ muốn dùng chăng?). Thế giặc rất mạnh. Quân ta bị thiếu lương thực và bị “ngộ độc thực phẩm” rất nhiều nên phải lui về núi Tùng ở Thanh Hóa sau hàng chục trận đánh. Bị bao vây không thể thoát, bà Triệu đã rút gươm tự sát trên đỉnh núi Tùng để không bị rơi vào tay quân giặc vào buổi chiều ngày 21 tháng 2 năm 248 khi mới 23 tuổi...

CỜ VIỆT NAM <br> Nguyễn Đình Đại

CỜ VIỆT NAM
Nguyễn Đình Đại

Hầu hết cờ quốc gia trên thế giới đều có kích thước "dài gấp rưỡi rộng" để dễ ghi hình 6 x 9 nhưng với Việt Nam, kích thước ấy còn có thêm một ý nghĩa nữa: "Dọc ngang phải tính, Cho ảnh sáu - chín. Sáu chín năm tư, Số dân tộc chính!" Tiện quá phải không ạ? Theo lời tác giả của Cờ Việt Nam (Nguyễn Hữu Tiến 1901 - 1941) "Hỡi những ai cùng máu đỏ da vàng, Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc. Nền cờ đỏ thắm máu đào vì nước, Sao vàng tươi như da của giống nòi. Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh nước ta ơi, Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh!" "Máu đỏ da vàng" là màu Cờ Việt Nam. 5 cánh sao tượng trưng cho 5 "trụ cột" của cả nước: Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh. Lấy giao điểm hai đường chéo của lá cờ làm tâm vẽ vòng tròn có bán kính bằng 1 / 5 chiều dài lá cờ, ta được vòng tròn đi qua 5 đỉnh của ngôi sao trên... Nguyễn Hữu Tiến hy sinh vào tháng Tám năm 1941 (bị Pháp xử bắn), chưa kịp nhìn thấy cờ đỏ sao vàng tung bay lần đầu tiên vào ngày 23 tháng 11 năm 1941. Quốc dân đại hội Tân Trào tại Tuyên Quang ngày 16 / 8 / 1945 đã chính thức chọn cờ đỏ sao vàng là Cờ Việt Nam.

ĐỘC TIỂU THANH KÝ  <br>Thơ: Nguyễn Du Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

ĐỘC TIỂU THANH KÝ
Thơ: Nguyễn Du Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư, Độc điếu song tiền nhất chỉ thư. Chi phấn hữu thần liên tử hậu, Văn chương vô mệnh lụy phần dư. Cổ kim hận sự thiên nan vấn, Phong vận kỳ oan ngã tự cư. Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Trên đây là một bài thơ "Đường luật thất niêm" của Nguyễn Du từng bị cho là "ngụy tác" bởi "Nguyễn Du đã từng đánh hỏng bao nhiêu sĩ tử vì lỗi làm thơ thất niêm thất luật không lẽ gì chính mình lại vi phạm lỗi ấy..." (Nguyễn Cẩm Xuyên, báo KTNN số 896). Vâng, đó là bài thơ Đường thất ngôn bát cú (TNBC) "luật bằng" vì chữ thứ hai trong câu đầu (Hồ) dùng thanh bằng nên chữ thứ hai câu chót cũng phải là bằng chứ không thể là trắc (hạ) được. Nhưng Bác Bảo Vệ lại cho đây là "lỗi cố tình" của Nguyễn Du... Sáu câu trên của bài thơ này hoàn toàn giữ đúng niêm luật của một bài thơ Đường TNBC. Cặp câu Đề giới thiệu cảnh vật tang thương biến đổi tột cùng ("tẫn" là "tột cùng") sau hai thế kỷ từ Tiểu Thanh đến Nguyễn Du, vườn hoa xưa nay chỉ còn là bãi hoang tàn: Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư, Độc điếu song tiền nhất chỉ thư. Ngoài song trông vào khách viếng chỉ được đọc một mảnh tình thơ sót lại (bị người vợ cả của chồng nàng ghen ghét nên đốt hết) của nàng Tiểu Thanh (sinh năm 1594 và mất năm 1612 khi mới vừa 18 tuổi) được người đời sau lưu giữ để thương tiếc một bậc tài hoa bạc mệnh. Cặp câu Thực tả về miếu thờ trang nghêm có cả di ảnh "chi phấn hữu thần" và mảnh thơ sầu thảm ấy (lụy phần dư): Chi phấn hữu thần liên tử hậu, Văn chương vô mệnh lụy phần dư. Cặp câu Luận nói về tâm trạng Nguyễn Du đang tự mang (ngã tự cư) "hận sự" giống như nàng: Cổ kim hận sự thiên nan vấn, Phong vận kỳ oan ngã tự cư. Căp câu Kết "phá cách" (thất niêm) bởi đột nhiên Nguyễn Du thảng thốt nói về mình và chỉ có... xót thương mình: Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Có nghĩa là: Chẳng biết ba trăm năm nữa thiên hạ có ai khóc Tố Như (tức Nguyễn Du) không? Quý vị nghĩ sao nếu cặp câu kết này được Nguyễn Du viết... đúng niêm luật bài thơ Đường? Nguyễn Du cho điều đó không chỉ "vô duyên" mà còn làm hỏng bố cục của bài thơ nên đã quyết định "phá cách" riêng hai câu kết. Và quả thật chính hai câu kết này đã trở thành bất hủ như Truyện Kiều của Nguyễn Du. Tóm lại Độc Tiểu Thanh Ký là của Nguyễn Du viết chứ không ai khác và cũng không có chuyện "tam sao thất bổn" ở đây...

QUỐC KÊU CẢM HỨNG  <br>Thơ: Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

QUỐC KÊU CẢM HỨNG
Thơ: Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

QUỐC KÊU CẢM HỨNG Thơ: Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV) Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ, Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ. Năm canh máu chảy đêm hè vắng, Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ. Có phải tiếc xuân mà đứng gọi, Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ? Ban đêm ròng rã kêu ai đó? Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ. Hai câu đề "giới thiệu" tiếng cuốc kêu nghe "khắc khoải" bởi đó là hồn của vua Thục (Đỗ Vũ hay Đỗ Quyên thời Chiến Quốc) hận mất nước khi chết hóa thành chim "cuốc" (sự tích chim Đỗ Quyên): Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ, Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ. Hai câu thực diễn tả rất... thực nỗi đau khôn cùng của một vong quốc nhân: Năm canh máu chảy đêm hè vắng, Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ. Hai câu luận được đặt ra dưới dạng câu hỏi cho thấy tác giả cũng thường trăn trở về nỗi nước nhà bấy giờ (bị Pháp đô hộ): Có phải tiếc xuân mà đứng gọi, Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ? Tiếng cuốc kêu giục tác giả suy nghĩ phải làm gì cho Tổ quốc (Quốc kêu cảm hứng) như lời hai câu kết: Ban đêm ròng rã kêu ai đó? Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ. Nhân đây Bác Bảo Vệ xin được chú thích về "đêm năm canh, ngày sáu khắc" và hai chữ "canh gà" trong "canh gà Thọ Xương" như sau: Mỗi khắc và mỗi canh đều dài bằng hai tiếng đồng hồ ngày nay. "Năm canh" là khoảng thời gian ban đêm (từ giờ Tuất đến giờ Dần). "Sáu khắc" là khoảng thời gian ban ngày (từ giờ Mão đến giờ Thân). Riêng giờ Dậu (từ 5 giờ chiều đến 7 giờ tối) là giờ giao giữa ngày và đêm nên không được tính là canh hay khắc. "Canh gà" trong "canh gà Thọ Xương" vì vậy không phải là "canh dậu", chỉ là "tiếng gà gáy báo sang canh" lúc 3 giờ sáng (bắt đầu canh Năm hay giờ Dần).