Giáo dục 4.0: Góp phần hiện đại hoá căn bản giáo dục đại học - Doanh Trí

Giáo dục 4.0: Góp phần hiện đại hoá căn bản giáo dục đại học

 

(Chinhphu.vn) – Để đáp ứng nhu cầu nhân lực cho nền công nghiệp mới và đồng thời tận dụng thế mạnh của CNTT, nhiều trường đại học trên thế giới đã và đang đổi mới toàn diện và theo đó giáo dục 4.0 (GD 4.0) đang được đánh giá là mô hình phù hợp.

 

Sinh viên trau dồi kỹ năng làm việc nhóm

Trong những năm qua, giáo dục đại học Việt Nam đã có nhiều thành tựu trong việc đào tạo đội ngũ nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Tuy vậy, các trường đại học (ĐH) Việt Nam vẫn có những hạn chế trong việc đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp (DN) về đội ngũ nhân lực có trình độ, đặc biệt trong bối cảnh đất nước hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu.

Những hạn chế đó đã đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục ĐH như được chỉ ra trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và GD 4.0 sẽ là một trong những giải pháp góp phần thực hiện yêu cầu đó.

Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử Chính phủ, PGS. TS. Nguyễn Mạnh Hùng, Hiệu trưởng Trường ĐH Nguyễn Tất Thành (TPHCM), trường đại học đầu tiên nghiên cứu và triển khai mô hình GD 4.0 cho rằng “GD 4.0 không chỉ là sự áp dụng CNTT vào trường học mà còn là việc thay đổi tư duy và cách tiếp cận để đào tạo nhân lực phù hợp cho nền kinh tế tri thức, toàn cầu hóa”.

Theo đó, GD 4.0 sẽ thay đổi từ giáo dục tri thức, năng lực làm việc hiệu quả sang đổi mới sáng tạo để tạo giá trị cho người học và xã hội. Do vậy, chỉ có áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng 4.0 vào giáo dục ĐH hay còn gọi là GD 4.0 thì các trường ĐH của Việt Nam mới có thể theo kịp với những biến đổi không ngừng về nhu cầu của nhân lực thị trường lao động, PGS. TS. Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định.

Mô hình giáo dục thông minh

Phân tích về vai trò của GD 4.0, ông Jonhson Ong Chee Bin, chuyên gia kiểm định quốc tế của AUN (mạng lưới các trường ĐH Đông Nam Á) đánh giá, GD 4.0  là một mô hình giáo dục thông minh, liên kết chủ yếu giữa các yếu tố nhà trường, nhà quản lý, nhà DN tạo điều kiện cho việc đổi mới, sáng tạo và năng suất lao động trong xã hội tri thức. Đặc biệt nhất của mô hình này chính là sẽ thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của giảng viên, sinh viên.

Đi sâu vào phân tích quá trình áp dụng mô hình này trong giáo dục ĐH, ông Jonhson Ong Chee Bin cho biết, do ứng dụng CNTT để nâng cao hiệu quả việc đào tạo, nên GD 4.0  giúp hoạt động dạy và học diễn ra mọi lúc và mọi nơi, giúp người học có thể cá nhân hóa, hoàn toàn quyết định việc học tập theo nhu cầu của bản thân.

Giáo dục 4.0 giúp thay đổi tư duy và cách tiếp cận về mô hình ĐH, tức là trường ĐH lúc này không chỉ là nơi đào tạo, nghiên cứu mà còn là trung tâm đổi mới sáng tạo, giải quyết các vấn đề thực tiễn, mang giá trị cho xã hội. Trường không chỉ đóng khung trong các bức tường của giảng đường, lớp học hay phòng thí nghiệm, mà phải mở rộng kết hợp với các DN, với thị trường lao động để trở thành một hệ sinh thái giáo dục.

Cụ thể, chương trình đào tạo trong giai đoạn này sẽ áp dụng chương trình xuyên ngành với việc lý thuyết, phương pháp, kiến thức của các ngành nghề được tích hợp thành những phương pháp, tư duy mới, giúp người học giải quyết các vấn đề thực tiễn của cuộc sống.

Theo PGS. TS. Nguyễn Mạnh Hùng, GD 4.0 được đánh giá là mô hình giáo dục thông minh vì chương trình đào tạo được xây dựng theo hướng đa ngành nên đã đáp ứng nhu cầu người lao động có thể làm việc trong môi trường đa ngành. Cụ thể, với phương pháp và tư duy giảng dạy mới, người học được tiếp cận với kiến thức từ 2 hay nhiều ngành giúp người học có kiến thức rộng hơn và có các góc nhìn khác nhau để giải quyết vấn đề tốt hơn.

Đáp ứng yêu cầu mới của xã hội

Muốn hòa nhập vào cuộc CMCN 4.0, vào nền kinh tế số, yếu tố then chốt là nguồn nhân lực. Chúng ta cần cải cách hệ thống giáo dục, đào tạo để tạo ra công dân toàn cầu. Bên cạnh đó, xu thế của nền công nghiệp 4.0 sẽ đòi hỏi một nguồn nhân lực 4.0, chính vì vậy, các trường ĐH, nơi cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực, lao động sẽ phải đào tạo ĐH theo chuẩn GD 4.0 để đáp ứng nhu cầu phát triển trong bối cảnh mới của thế giới.

Với mô hình giáo dục mới này, nhà trường sẽ phải  đổi mới mô hình giáo dục, chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình chỉ đào tạo "những gì thị trường cần" và hướng tới chỉ đào tạo "những gì thị trường sẽ cần". Theo mô hình mới này, việc gắn kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với DN là yêu cầu bức thiết được đặt ra, đồng thời, đẩy mạnh việc hình thành các cơ sở đào tạo trong DN để chia các nguồn lực chung.

Hiện nay, cách mạng công nghiệp 4.0 và GD 4.0 đã và đang được các nước trong khu vực ASEAN quan tâm và triển khai.

Cụ thể tại Singapore, 2 trường đại học là ĐH Công nghệ Nanyang và ĐHQG  Singapore đã trở thành ĐH hàng đầu châu Á và thế giới thông qua việc kết hợp trường học với các DN trong khu công nghiệp Jurong, các DN công nghệ cao tại Biopolis, các DN sáng tạo tại Fusionpolis thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo theo mô hình triple helix.

Thái Lan hiện nay cũng có chiến lược Thai 4.0. Theo đó, 27 trường đại học sẽ được đầu tư để thực hiện kế hoạch First S-Curve và New S-Curve (đầu tư phát triển các công nghiệp truyền thống như ô tô, điện tử, du lịch và công nghiệp mới như robotics, hàng không, sinh học, y học).

Tại Việt Nam, để đẩy mạnh mô hình ĐH 4.0, Bộ GD&ĐT đã thành lập ban soạn thảo, nghiên cứu về mô hình ĐH 4.0 và nhanh chóng triển khai để nâng cao chất lượng giáo dục ĐH, góp phần thực hiện mục tiêu đến năm 2025 Việt Nam trở thành quốc gia khởi nghiệp.

Mô hình này cũng đã được Trường ĐH Nguyễn Tất Thành (TPHCM) tiên phong triển khai thí điểm tích hợp các đặc tính của GD 4.0 vào mọi mặt hoạt động của nhà trường.

Theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng, để đẩy mạnh phát triển mô hình GD 4.0 và cụ thể hóa mục tiêu đó, Trường ĐH Nguyễn Tất Thành đã thành lập ban nghiên cứu mô hình giáo dục 4.0 do các nhà khoa học, chuyên gia trong ngành dẫn dắt. Bên cạnh đó, trường còn chú trọng đầu tư phát triển cơ sở vật chất, xây dựng công viên khoa học, trung tâm phát triển công nghệ, trường cao đẳng công nghệ cao tại khu công nghệ cao Quận 9, TP.HCM. 

Đây chính là hệ thống các trung tâm đào tạo, trung tâm nghiên cứu, cơ sở sản xuất ứng dụng thực nghiệm tạo môi trường hiện đại, thuận lợi cho các chuyên gia nghiên cứu và hoàn thiện các sản phẩm công nghệ  mới theo mô hình giáo dục 4.0, gắn kết thành công giữa nhà trường với DN.
 

 

Ngoài ra, hằng năm, trường cung cấp cho thị trường lao động gần 5.000 kỹ sư, cử nhân lành nghề, do đó để có thể nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội, đáp ứng các yêu cầu của cuộc cách mạng 4.0, ĐH Nguyễn Tất Thành đã chủ động đăng ký kiểm định quốc tế AUN, là trường ngoài công lập đầu tiên đạt kiểm định chất lượng của Bộ GD&ĐT, đồng thời đạt chuẩn quốc tế 3 sao của tổ chức QS-Stars.

Thanh Thuỷ

Duy Tan Tuyen Sinh 2017

Tin liên quan

CHIÊU SINH CHƯƠNG TRÌNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ

CHIÊU SINH CHƯƠNG TRÌNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ

Nhằm đáp ứng nhu cầu cần trang bị và tăng cường khả năng trong đàm phán thương mại cho Doanh nhân và Luật gia; Viện Khoa học Pháp lý và Kinh doanh Quốc tế IBLA thiết lập chương trình đào tạo “LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ” (International Business Law). Chương trình bao gồm 9 Chủ đề, mỗi chủ đề học 4 tuần vào sáng thứ Bảy, hoặc sáng thứ năm. Giáo trình bằng tiếng Anh.

Học tiếng Anh để giảm thất nghiệp

Học tiếng Anh để giảm thất nghiệp

TS Trần Đình Lý, Trưởng Phòng Đào tạo Trường ĐH Nông Lâm TP HCM, cho rằng đào tạo ngoại ngữ là nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh hội nhập, đồng thời đó là một quá trình và cần đổi mới chương trình dạy ngoại ngữ không chuyên. Về phía người học, ông bày tỏ thái độ coi trọng công tác hướng nghiệp của sinh viên: "Sinh viên nên chọn đúng ngành đúng nghề vì "ảo" trong việc xác định sai ngành nghề gây lãng phí lớn cho bản thân và xã hội cũng là một trong những nguyên nhân làm nên con số cử nhân thất nghiệp hoặc làm không đúng ngành nghề như hiện nay".

Các em học sinh Trường THCS, THPT DUY TÂN tiếp cận mô hình giáo dục STEM của Lego Education

Các em học sinh Trường THCS, THPT DUY TÂN tiếp cận mô hình giáo dục STEM của Lego Education

Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư đã bắt đầu từ những năm 2000 và tập trung chủ yếu với những đột phá trong công nghệ khoa học máy tính, công nghệ sinh học và công nghệ nano trên nền tảng với các bước phát triền thần kỳ của cuộc cách mạng công nghệ số. Với mục đích nhằm giúp các em học sinh Trường THCS, THPT DUY TÂN khơi dậy niềm đam mê và sự sáng tạo, hình thành thói quen tự học, biết ứng dụng kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống cá nhân cũng như của cộng đồng với những phương pháp tiến bộ và năng động, biết cách khai thác nguồn dữ liệu thông tin toàn cầu ứng dụng trong học tập, biết cách tiếp cận và phát triển tư duy logic

GIÁO DỤC STEM là gì?

GIÁO DỤC STEM là gì?

STEM là viết tắt của các từ Science (khoa học), Technology (công nghệ), Engineering (kỹ thuật) và Math (toán học). Giáo dục STEM về bản chất được hiểu là trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học. Các kiến thức và kỹ năng này (gọi là kỹ năng STEM) phải được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau giúp học sinh không chỉ hiểu biết về nguyên lý mà còn có thể áp dụng để thực hành và tạo ra được những sản phẩm trong cuộc sống hằng ngày.

Giảng viên chỉ ra nhiều hạn chế trong dạy tiếng Anh bậc đại học

Giảng viên chỉ ra nhiều hạn chế trong dạy tiếng Anh bậc đại học

Phương pháp dạy, chương trình đào tạo, thái độ của người học... được ông Cường cho là hạn chế của việc dạy và học tiếng Anh ở đại học. Tại hội thảo Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo trong bối cảnh hội nhập và tự chủ do Đại học Nông Lâm TP HCM tổ chức ngày 6/10, TS Phạm Huy Cường (Phó trưởng bộ môn Ngoại ngữ, Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP HCM) cho biết, khảo sát hơn 100 doanh nghiệp ở Việt Nam có tới 70% trả lời rất cần tiếng Anh trong công việc.

Lời muốn nói của những doanh nghiệp nhỏ đi gõ cửa vay ngân hàng

Lời muốn nói của những doanh nghiệp nhỏ đi gõ cửa vay ngân hàng

Tiềm ẩn nhiều rủi ro về tài sản thế chấp, về thời gian hoạt động chưa đủ gây dựng niềm tin... là những lý do khiến ngân hàng thường e ngại khi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn. Theo thống kê của NHNN, tính đến hết tháng 8/2017, dư nợ tín dụng của DN nhỏ và vừa đạt 1,29 triệu tỷ đồng; tăng 7,49% so với cuối năm 2016 và chiếm hơn 21% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Hiện nay có khoảng 200 nghìn doanh nghiệp nhỏ và vừa đang có dư nợ tại các TCTD.