Có gì đặc biệt trong TOP 300 đại học châu Á? - Doanh Trí

Có gì đặc biệt trong TOP 300 đại học châu Á?

 

(Chinhphu.vn) - Tạp chí giáo dục uy tín hàng đầu thế giới Times Higher Education (Vương quốc Anh) vừa công bố bảng xếp hạng 300 trường đại học ở châu Á năm 2017.

 

Đại học Quốc gia Singapore (NUS) - Số sinh viên hơn 31.000 (nam - nữ 50:50); sinh viên quốc tế chiếm 32%. Nguồn: THE

Trước hết, trong TOP 10, quốc đảo Singpore với số dân ước 5,5 triệu người nhưng có tới 2 trường. Theo đó, Đại học Quốc gia Singapore (NUS) giữ vị trí số 1 châu Á; Đại học Công nghệ Nanyang đứng thứ 4.

Trung Quốc - nước đông dân nhất thế giới, nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới có 4 trường trong TOP 10. Cụ thể, Đại học Bắc Kinh đứng thứ 2, Đại học Thanh Hoa xếp hạng 3, Đại học Hong Kong thứ 5 và Đại học Khoa học và Công nghệ Hong Kong xếp hạng 6.

Nhật Bản, cường quốc kinh tế thứ 3 thế giới có 1 trường trong nhóm này, đó là Đại học Tokyo xếp hạng 7.

Hàn Quốc với “kỳ tích sông Hàn” vang dội thập niên 60-70 của thế kỷ trước đã có 3 trường trong nhóm dẫn đầu: Viện Khoa học và Công nghệ tiên tiến Hàn Quốc- KAIST xếp thứ 8, Đại học Quốc gia Seoul thứ 9 và Đại học Khoa học và Công nghệ Pohang xếp thứ 10.

Tính chung trong danh sách 300 trường hàng đầu châu Á, tuy không có nhiều trường xếp thứ hạng cao nhưng Nhật Bản có nhiều trường nhất (69 trường), kế đến là Trung Quốc (54 trường), Ấn Độ (33 trường) và Hàn Quốc 26 trường.

Tại khu vực ASEAN, Thái Lan có nhiều trường lọt vào danh sách này nhất với 10 trường (như Đại học Makidol, Đại học Chiangmai, Đại học Công nghệ King Mongkut Thonburi, Đại học Chulakongkorn, Đại học Công nghệ Suranaree, Đại học Khon Caen…).

Malaysia có 9 trường (trong đó Đại học Malaya xếp hạng 59, Đại học Tunku Abdul Rahman, Đại học Putra Malaysia, Đại học Công nghệ Malaysia, Đại học Công nghệ Petronas, Đại học Sains Malaysia, Đại học Kebangsaan...); Indonesia có 2 (Viện công nghệ Bangdung, Đại học Indonesia) và Philippines có 1 trường (Đại học Philippines).

Bảng xếp hạng của Times Higher Education căn cứ vào việc tính điểm trong 4 lĩnh vực.

Theo đó, giảng dạy chiếm 25% số điểm, trong đó riêng “danh tiếng học thuật” chiếm 10%.

Lĩnh vực nghiên cứu chiếm 30% số điểm. Tầm ảnh hưởng nghiên cứu cũng chiếm 30%, cách tính điểm là dựa trên số lần công trình nghiên cứu của trường được các học giả toàn cầu trích dẫn.

Lĩnh vực cuối cùng chiếm 15% số điểm, bao gồm triển vọng quốc tế và chuyển giao kiến thức.

Triển vọng quốc tế được đánh giá dựa vào tỷ lệ sinh viên trong nước/ngoài nước, tỷ lệ giảng viên trong nước/ngoài nước và hợp tác quốc tế.

Chuyển giao kiến thức được xem là thu nhập của trường từ việc bán nghiên cứu cho các doanh nghiệp.

Theo các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, các trường đại học nước ngoài rất quan tâm đến việc được đánh giá, xếp hạng bởi các tổ chức quốc tế uy tín, vì điều này nói lên năng lực và uy tín học thuật, chất lượng đào tạo và khả năng cạnh tranh của họ. Những yếu tố này có tính quyết định đến việc thu hút sinh viên cũng như các khoản tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu.

Thanh Phương

 

Duy Tan Tuyen Sinh 2017

Tin liên quan

CHIÊU SINH CHƯƠNG TRÌNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ

CHIÊU SINH CHƯƠNG TRÌNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ

Nhằm đáp ứng nhu cầu cần trang bị và tăng cường khả năng trong đàm phán thương mại cho Doanh nhân và Luật gia; Viện Khoa học Pháp lý và Kinh doanh Quốc tế IBLA thiết lập chương trình đào tạo “LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ” (International Business Law). Chương trình bao gồm 9 Chủ đề, mỗi chủ đề học 4 tuần vào sáng thứ Bảy, hoặc sáng thứ năm. Giáo trình bằng tiếng Anh.

Học tiếng Anh để giảm thất nghiệp

Học tiếng Anh để giảm thất nghiệp

TS Trần Đình Lý, Trưởng Phòng Đào tạo Trường ĐH Nông Lâm TP HCM, cho rằng đào tạo ngoại ngữ là nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh hội nhập, đồng thời đó là một quá trình và cần đổi mới chương trình dạy ngoại ngữ không chuyên. Về phía người học, ông bày tỏ thái độ coi trọng công tác hướng nghiệp của sinh viên: "Sinh viên nên chọn đúng ngành đúng nghề vì "ảo" trong việc xác định sai ngành nghề gây lãng phí lớn cho bản thân và xã hội cũng là một trong những nguyên nhân làm nên con số cử nhân thất nghiệp hoặc làm không đúng ngành nghề như hiện nay".

Các em học sinh Trường THCS, THPT DUY TÂN tiếp cận mô hình giáo dục STEM của Lego Education

Các em học sinh Trường THCS, THPT DUY TÂN tiếp cận mô hình giáo dục STEM của Lego Education

Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư đã bắt đầu từ những năm 2000 và tập trung chủ yếu với những đột phá trong công nghệ khoa học máy tính, công nghệ sinh học và công nghệ nano trên nền tảng với các bước phát triền thần kỳ của cuộc cách mạng công nghệ số. Với mục đích nhằm giúp các em học sinh Trường THCS, THPT DUY TÂN khơi dậy niềm đam mê và sự sáng tạo, hình thành thói quen tự học, biết ứng dụng kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống cá nhân cũng như của cộng đồng với những phương pháp tiến bộ và năng động, biết cách khai thác nguồn dữ liệu thông tin toàn cầu ứng dụng trong học tập, biết cách tiếp cận và phát triển tư duy logic

GIÁO DỤC STEM là gì?

GIÁO DỤC STEM là gì?

STEM là viết tắt của các từ Science (khoa học), Technology (công nghệ), Engineering (kỹ thuật) và Math (toán học). Giáo dục STEM về bản chất được hiểu là trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học. Các kiến thức và kỹ năng này (gọi là kỹ năng STEM) phải được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau giúp học sinh không chỉ hiểu biết về nguyên lý mà còn có thể áp dụng để thực hành và tạo ra được những sản phẩm trong cuộc sống hằng ngày.

Giảng viên chỉ ra nhiều hạn chế trong dạy tiếng Anh bậc đại học

Giảng viên chỉ ra nhiều hạn chế trong dạy tiếng Anh bậc đại học

Phương pháp dạy, chương trình đào tạo, thái độ của người học... được ông Cường cho là hạn chế của việc dạy và học tiếng Anh ở đại học. Tại hội thảo Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo trong bối cảnh hội nhập và tự chủ do Đại học Nông Lâm TP HCM tổ chức ngày 6/10, TS Phạm Huy Cường (Phó trưởng bộ môn Ngoại ngữ, Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP HCM) cho biết, khảo sát hơn 100 doanh nghiệp ở Việt Nam có tới 70% trả lời rất cần tiếng Anh trong công việc.

Lời muốn nói của những doanh nghiệp nhỏ đi gõ cửa vay ngân hàng

Lời muốn nói của những doanh nghiệp nhỏ đi gõ cửa vay ngân hàng

Tiềm ẩn nhiều rủi ro về tài sản thế chấp, về thời gian hoạt động chưa đủ gây dựng niềm tin... là những lý do khiến ngân hàng thường e ngại khi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn. Theo thống kê của NHNN, tính đến hết tháng 8/2017, dư nợ tín dụng của DN nhỏ và vừa đạt 1,29 triệu tỷ đồng; tăng 7,49% so với cuối năm 2016 và chiếm hơn 21% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Hiện nay có khoảng 200 nghìn doanh nghiệp nhỏ và vừa đang có dư nợ tại các TCTD.