Cơ chế giải quyết tranh chấp Thương mại & Đầu tư của cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) - Doanh Trí

Cơ chế giải quyết tranh chấp Thương mại & Đầu tư của cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

Cộng đồng kinh tế ASEAN thành lập ngày 31 tháng 12 năm 2015, là một thị trường chung, các yếu tố sản xuất, lao động và tiền vốn được tự do di chuyển giữa các quốc gia thành viên. Không có giới hạn đối với nhập cư, di cư, dòng vốn lưu thông tự do giữa các quốc gia thành viên.

Hầu hết các thành viên ASEAN có nền kinh tế thị trường, có những đặc trưng: tất cả các hoạt động sản xuất đều thuộc sở hữu tư nhân, sản xuất được xác định bởi sự tương tác giữa cung và cầu, thông qua cơ chế của hệ thống giá xác định những gì được sản xuất về số lượng hoặc chất lượng. Vai trò của Chính phủ là khuyến khích cạnh tranh giữa các nhà sản xuất tư nhân.

Các nước thành viên ASEAN là thành viên của WTO: Brunei, Indonesia, Malaysia, Myanma, Philippines, Singapore, Thailand (January 1995), Cambodia (October 2004), Vietnam (January 2007), Laos (February 2013).

Không chỉ riêng các nước ASEAN là điểm đến đầu tư hấp dẫn, mà là tiềm năng của một khu vực hội nhập với dân số 600 triệu, GDP 3 nghìn tỷ USD, và triển vọng tăng trưởng, nâng cao vị thế của ASEAN trong con mắt của các nhà đầu tư.

Trong quá trình hội nhập thị trường nội bộ của riêng mình, ASEAN gần đây đã ký kết các hiệp định thương mại tự do với một số đối tác thương mại lớn trong khu vực: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc và thỏa thuận chung với Úc và New Zealand.

Mục đích chính của ASEAN kể từ khi thành lập nhằm thúc đẩy hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, cơ chế giải quyết tranh chấp không được đề cập đến trong quá trình thành lập ASEAN Declaration of 1967

Việc tạo ra các chỉ tiêu và cơ chế chính thức để giải quyết tranh chấp đã được gia tăng. Việc đề cập sớm nhất về giải quyết tranh chấp trong một thỏa thuận ASEAN là: 1971 Declaration on the Zone of Peace, Freedom and Neutrality, đã công nhận các mục tiêu của Liên hợp quốc, bao gồm việc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế.

Về thương mại và đầu tư, ASEAN đã phát triển ba cơ chế để giải quyết tranh chấp: 1976 Treaty of Amity and Cooperation , 1996 Protocol on Dispute Settlement Mechanism và 2004 Protocol for Enhanced Dispute Settlement Mechanism

·      Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia (Jakarta, Indonesia, 24 February 1976):

Thúc đẩy hợp tác tích cực; Cơ sở bình đẳng, không phân biệt đối xử và cùng có lợi; Cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế vì lợi ích chung của người dân.

Để đạt được công bằng xã hội và nâng cao mức sống của các dân tộc trong khu vực, các bên ký kết: Tăng cường hợp tác kinh tế bằng cách áp dụng các chiến lược khu vực phù hợp để phát triển kinh tế và hỗ trợ lẫn nhau. Sẽ cố gắng hợp tác trong tất cả các lĩnh vực để thúc đẩy khả năng phục hồi của khu vực, dựa trên các nguyên tắc tự tin, tự lực, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác và đoàn kết sẽ tạo thành nền tảng cho một cộng đồng dân cư vững mạnh và hữu hiệu ở Đông Nam Á. Sẽ có quyết tâm và thiện chí để ngăn chặn các tranh chấp phát sinh. Trong trường hợp có tranh chấp về các vấn đề ảnh hưởng trực tiếp, đặc biệt là các tranh chấp có khả năng gây rối trật tự, hòa bình khu vực, không được đe dọa hoặc sử dụng vũ lực vào mọi thời điểm.

·      The Protocol on Dispute Settlement Mechanism in Manila, Philippineson 20 November 1996:

Các nước thành viên sẽ có cơ hội hợp lý để tham vấn về bất kỳ đại diện nào được thực hiện bởi các nước thành viên khác liên quan đến bất kỳ vấn đề nào ảnh hưởng đến việc thực hiện, giải thích hoặc áp dụng Hiệp định; Các Nước thành viên là các bên tranh chấp có thể bất cứ lúc nào đồng ý với các văn phòng hòa giải, có thể bắt đầu bất cứ lúc nào và được chấm dứt bất cứ lúc nào; Một khi các thủ tục hòa giải hoặc việc hòa giải chấm dứt, một bên khiếu nại sau đó có thể tiến hành đưa vấn đề lên the Senior Economic Officials Meeting (SEOM).

·      ASEAN Protocol on Enhanced Dispute Settlement Mechanism (2004)

Nhắc lại Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN đã ký tại Singapore ngày 28/1/1992, sửa đổi bởi Nghị định thư sửa đổi Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN ký tại Bangkok ngày 15/12/1995 và Nghị định thư về Cơ chế giải quyết tranh chấp ký tại Manila ngày 20 Tháng 11 năm 1996; Nhắc lại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 9 tổ chức tại Bali vào ngày 7-8 / 10/2003, đã quyết định tăng cường thể chế ASEAN, bao gồm cải thiện Cơ chế giải quyết tranh chấp ASEAN.

Đối với các tranh chấp liên quan đến các hiệp định kinh tế ASEAN, các quy định của 2007 ASEAN Charter như một khuôn khổ bao quát cho giải quyết tranh chấp trong ASEAN.

·      Charter of the Association of Southeast Asian Nations:

Hiến chương ASEAN đóng vai trò nền tảng, vững chắc trong việc đạt được một cộng đồng ASEAN bằng cách cung cấp tình trạng pháp lý và khung thể chế cho ASEAN. Nó cũng thống nhất các tiêu chuẩn, quy tắc và giá trị của ASEAN; đặt mục tiêu rõ ràng cho ASEAN: trách nhiệm và sự tuân thủ. Hiến chương ASEAN có hiệu lực vào ngày 15 tháng 12 năm 2008. Khi Hiến chương ASEAN có hiệu lực, ASEAN sẽ từ đó hoạt động theo khuôn khổ pháp lý mới và thiết lập một số cơ quan mới để thúc đẩy quá trình xây dựng cộng đồng của mình.

          Thực tế, Hiến chương ASEAN đã trở thành một thỏa thuận ràng buộc về mặt pháp lý giữa 10 quốc gia thành viên ASEAN. Nó cũng sẽ được đăng ký với Ban thư ký của Liên Hiệp Quốc, theo Điều 102, Khoản1 của Hiến chương Liên hợp quốc.

·      Protocol to the ASEAN CHARTER on Dispute Settlement Mechanisms (adopted in Hanoi, Vietnam on 8th April 2010)

Chuyển đổi ASEAN thành một tổ chức dựa trên quy tắc với các cơ chế thực tế, hiệu quả và đáng tin cậy để giải quyết các tranh chấp một cách hiệu quả và kịp thời. Cung cấp giải quyết tranh chấp theo trọng tài. Quy tắc Trọng tài (phụ lụcNghị định thư): chức năng của Tòa án trọng tài; Bên thứ ba; Luật áp dụng; Phán quyết trọng tài; Tuân thủ Thỏa thuận và phán quyết trọng tài.

Các nước thành viên ASEAN cũng là thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO). Với cơ chế giải quyết tranh chấp về thương mại và đầu tư đối với quốc gia ASEAN có liên quan, các nước thành viên có thể tìm kiếm các phương tiện hòa bình và thân thiện để giải quyết các ý kiến khác nhau của họ. Các nước ASEAN vẫn có thêm một cơ chế lựa chọn nữa là giải quyết tranh chấp của WTO.

Kết luận

Thông qua các Hiệp định, Điều ước, Nghị định thư và Điều lệ của ASEAN. Các nước thành viên của ASEAN hài lòng với các thỏa thuận được ký bởi các thành viên,cơ chế được thành lập để giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên.

Các nước thành viên cũng đã nỗ lực tạo ra một thị trường chung cho ASEAN, một thị trường chung tiềm năng trong khu vực và trên khắp châu Á, cũng như thu hút đầu tư trên toàn thế giới trong quá trình hội nhập toàn cầu. Do đó các tranh chấp có thể phát sinh trong phạm vi rộng hơn và phức tạp hơn về quy mô và số lượng các trường hợp phát sinh.

Cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thương mại và đầu tư cần hoàn chỉnh hơn. ASEAN nên thành lập Trung tâm Trọng tài Kinh tế ASEAN để giải quyết các tranh chấp giữa các thành viên, giữa các thành viên và các đối tác bên ngoài ASEAN. Phải có cơ chế để thực thi các phán quyết trọng tài của ASEAN hoàn hảo hơn, mạnh mẽ hơn.

Nhóm nghiên cứu kinh tế - Viện IBLA

Duy Tan Tuyen Sinh 2018

Tin liên quan

Đề xuất 2 phương án trợ cấp người có công

Đề xuất 2 phương án trợ cấp người có công

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang dự thảo Nghị định quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công. Trong đó, Bộ đề xuất 2 phương án quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi dành cho đối tượng này.

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ

Những vướng mắc, bất cập của Luật Sở hữu trí tuệ khi triển khai thực hiện Hiệp định CPTPP đang được Bộ Công Thương đề xuất sửa đổi, bổ sung tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ. Bộ Công Thương cho biết, Luật Sở hữu trí tuệ hoàn toàn chưa có quy định pháp luật như yêu cầu của Hiệp định CPTPP. Cụ thể:

Ban hành 19 văn bản QPPL trong tháng 2/2019

Ban hành 19 văn bản QPPL trong tháng 2/2019

Theo Thông cáo báo chí của Bộ Tư pháp, trong tháng 2/2019, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 19 văn bản quy phạm pháp luật, gồm 11 Nghị định của Chính phủ và 8 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Nghị định số 14/2019/NĐ-CP ngày 1/2/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2015/NĐ-CP ngày 28/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, trong đó, sửa đổi, bổ sung về đối tượng không chịu thuế; hoàn thuế; khấu trừ thuế.

Tòa án quyết định lãi, lãi suất trong bản án

Tòa án quyết định lãi, lãi suất trong bản án

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; trong đó, quy định cụ thể về quyết định lãi, lãi suất trong bản án, quyết định của Tòa án; xử lý việc không trả nợ đúng hạn trong hợp đồng vay tài sản.

Tung tin thất thiệt: Gây hại lớn, phạt quá nhẹ

Tung tin thất thiệt: Gây hại lớn, phạt quá nhẹ

Đối với người tham gia mạng xã hội, cần hết sức tỉnh táo. Trước khi nhấn nút thích (like) hoặc chia sẻ (share), mọi người nên tìm hiểu thông tin thật kỹ, nếu thấy thông tin nào không đáng tin cậy hoặc không thể kiểm chứng thì không nên chia sẻ. Bởi nếu không biết thông tin đó đúng hay sai mà chia sẻ thì không chỉ tiếp tay cho cái xấu, cái sai mà bản thân còn có thể bị xử lý về hành vi lan truyền thông tin sai sự thật.